Một gương mặt văn chương đặc biệt

Vladimir Nabokov -
MỘT GƯƠNG MẶT VĂN CHƯƠNG ĐẶC BIỆT

(Bài đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ) 

NGUYÊN HÙNG 

Trong lịch sử văn học thế kỷ 20 Vladimir Nabokov giữ vị trí độc nhất vô nhị là tác giả viết giỏi đồng thời bằng hai thứ tiếng: Nga và Anh. Sinh ra ở nước Nga ông luôn mang theo mình những hồi ức về quê hương thể hiện chúng qua hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau và xứng đáng trở thành một trong những gương mặt hàng đầu của nền văn học Nga. Đồng thời ông cũng được coi là nhà kinh điển của nền văn xuôi Mỹ hiện đại là người mà các nhà văn “bản xứ” như K.Wonnegut J. Bart T.Pinchon T.Sazern tôn vinh là vị tiền bối gần gũi của mình. Với mảng tác phẩm được viết bằng Anh ngữ dường như Nabokov là nhà văn được sinh ra ở bên kia bờ Đại Tây Dương chứ không phải là một người con của nước Nga.

Có thể nói rằng Vladimir Nabokov đang giữ một giá trị sáng tạo kỷ lục; và điều đó chứng tỏ một điều rằng “xuất xứ của nhà văn chỉ là điều thứ yếu sự nghiệp sáng tạo của anh ta mới là tờ giấy thông hành đích thực”. Với những đóng góp to lớn của mình cho nền văn học thế giới năm 1974 Vladimir Nabokov từng được đề cử xét tặng thưởng giải Nobel về văn chương cùng với Graham Greene và Saul Bellow.

Rời khỏi nước Nga


Nabokov sinh ra trong một gia đình luật sư có tư tưởng tự do là con cháu của nhà quý tộc V.Đ.Nabokov. Ông nội của nhà văn Đ.N.Nabokov từng giữ chức bộ trưởng tư pháp dưới thời Aleksandr II. Mẹ ông Elena Ivanovna là con gái của nhà tỷ phú công nghiệp khai thác vàng Rukavishnikov. Tuổi thơ của nhà văn trôi qua ở Peterburg nơi mà mỗi mùa hè gia đình ông đều đi đến vùng đất riêng của mình ở Batovo. Cạnh Batovo là lãnh địa Thiên chúa giáo rộng lớn và giàu có của người bác ông V.I.Rukavishnikov người sau đó đã để chúc thư truyền lại cho cháu mình nhà văn tương lai. Nơi đây đã khắc sâu trong tâm khảm Nabokov suốt cả cuộc đời về sau. Ngay trước sự kiện Cách mạng tháng Mười Nabokov đã kịp tốt nghiệp trường kỹ thuật Tenishevsky nơi anh đã đạt thành tích xuất sắc trong cả hai lĩnh vực học văn hóa và thể thao. Năm 1918 chàng thanh niên Nabokov cùng với gia đình sơ tán đến Krưm sau đó một năm thì rời khỏi nước Nga. Gia đình Nabokov định cư ở Brlin và V.Nabokov vào học trường Đại học tổng hợp Kembrizsky. Ra trường Nabokov lập nghiệp tại Berlin trong vòng 15 năm (1922-1937). Sau đó số phận run rủi ông đến Pháp trong hai năm rồi cùng vợ con đi Mỹ vào năm 1940 ngay trước khi những sư đoàn đầu tiên của phát-xít Đức tiến vào Paris. V.Nabokov ở lại Mỹ trong thời gian gần 20 năm vừa dạy học vừa viết văn. Năm 1945 Nabokov nhận quốc tịch Mỹ. Tại đây ông đã tạo dựng tên tuổi trước hết với tư cách là nhà côn trùng học chuyên sưu tầm nghiên cứu về bướm và đã phát triển thú đam mê từ thời thơ ấu này thành một trò giải trí chuyên nghiệp. Đây là một điểm khá thú vị trong sự nghiệp của Nabokov và sinh thời đã từng có không ít ý kiến cho rằng thú chơi bướm chẳng qua chỉ là một cách “đánh bóng tên tuổi” “làm bộ làm tịch” của nhà văn.

Nước Nga trong Nabokov

Năm 1959 Nabokov trở về châu Âu và định cư tại Thụy Sỹ cho đến những ngày cuối đời. Dù ở đâu - Berlin Paris hay Mỹ V. Nabokov luôn chiếm được vị trí xứng đáng trong văn học. Nước Nga trong ông không giống nước Nga của Bunin Kuprin I.S.Smeliev B. K.Zaitsev. Trong tác phẩm Nabokov không có các thành phố các làng mạc được chỉ tên không có những hình tượng nhân vật có thể gọi theo kiểu Nga cũng không mảy may có sự miêu tả trực tiếp các thảm họa gây chấn động lịch sử dân tộc trong thế kỷ qua. Nước Nga của Nabokov – đó là bóng dáng của một thời thơ ấu hồn nhiên đã mất đó là thời mà “mỗi lời khẩn cầu một câu hỏi được ném lên trời thì lập tức sẽ nhận được câu trả lời đầy ngạc nhiên và quý báu”. Nabokov đã viết như thế trong “Massenka” (1926) cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho tác giả sự nổi tiếng đầu tiên và lối ẩn dụ này được ông tiếp tục với nhiều dạng văn phong khác nhau trong suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà văn cho tới bộ sách đồ sộ cuối cùng của mình bằng tiếng Nga là “Những bến bờ khác”.

Nước Nga của Nabokov – đó là một thứ ngôn ngữ riêng hoàn hảo điều mà ông coi là thế mạnh chủ yếu của mình. Trong lời mở đầu cho tiểu thuyết “Những bến bờ khác” Nabokov viết: “Năm 1940 tôi quyết định chuyển sang viết bằng tiếng Anh và điều tai hại là ở chỗ trước đó trong vòng hơn 15 năm trời tôi viết bằng tiếng Nga từng để lại dấu ấn riêng lên các “công cụ và trợ thủ” của mình. Khi chuyển sang một ngôn ngữ khác vô hình trung tôi phải từ bỏ thứ tiếng của Avvakum Puskin Tolstoy và các ấn phẩm Nga”. Cuối cùng nước Nga của Nabokov – đó là nền văn học Nga kinh điển. Về đóng góp của Nabokov trong mảng văn học ngoài tiếng Nga đã có ý kiến cho rằng phương Tây chịu ơn ông vì các bản dịch ra tiếng Anh (và một số ra tiếng Pháp) các tác phẩm của Puskin lermontov Chiutchev.

Quan điểm sáng tạo của Nabokov

Hơn hết thảy Nabokov căm ghét căm ghét một cách sâu sắc điều mà ông gọi là “sự tầm thường” trong sáng tạo khi đưa vào khái niệm này một nội dung rất rộng lớn.

Sự tầm thường – đó là sự xâm hại về mặt đạo đức triết học lịch sử đến các lằn ranh có chủ quyền của nghệ thuật. Nabokov đã công kích một cách thù địch những tác giả như Tomas Mann Andre Malro thậm chí cả Đostoevsky và phủ nhận một cách miệt thị nhận định phổ biến về Gogol như là người lên án các tệ nạn xã hội là người thương cảm “những thân phận bé nhỏ”. Sự tầm thường – đó cũng là đòi hỏi về tính dân tộc trong văn học. Như một họa sĩ một nhà nghiên cứu văn học và triết học một giáo sư đại học Nabokov luôn trong tình trạng đấu tranh không ngừng với các truyền thống của nền phê bình ở nước Nga.

Cuối cùng sự tầm thường – đó là các chế độ độc tài được phản ánh một cách sinh động qua các tiểu thuyết: “Giấy mời đến pháp trường” (1938) “Những đứa con hoang” (nguyên bản tiếng Anh là «Bend Sinister») các truyện ngắn “Hoàng đế” (1933) “Tiêu diệt cuồng bạo” (1936) “Hồ đám mây bể nước” (1937) kịch “Sự phát minh điệu Van-xơ” (1938) và trong một loạt tác phẩm khác.

Nabokov - nhà văn Mỹ

Các đề tài trung tâm và cơ sở mỹ học chính của V. Sirin (bút danh cho các tác phẩm bằng tiếng Nga của Nabokov) đã tìm được sự kế tục và phát triển trong giai đoạn sáng tạo bằng tiếng Anh của Nabokov.

Ngôn ngữ điêu luyện và độc đáo của Nabokov không chỉ là công cụ và trợ thủ mà còn là nhân vật trong tất cả các cuốn sách của ông. Người ta đã từng so sánh Nabokov với Joseph Conrad người cũng trở thành nhà kinh điển của văn học không bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (Joseph Conrad là người Ba Lan) nhưng điều đó đã xúc phạm tác giả tiểu thuyết “Lolita” vì thực tế thì Joseph Conrad có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh tốt hơn nhiều so với Nabokov và nhà văn này cũng không hề bị chi phối bởi hệ thống của ngôn ngữ sla-vơ.

Về tác phẩm chính được viết bằng tiếng Anh của Nabokov có thể kể: các tiểu thuyết “Cuộc sống thực của Sebastian Knight” (The Real Life of Sebastian Knight 1941) “Những đứa con hoang” (Bend Sinister 1944) “Ngọn lửa xanh xao” (1962) truyện hài Pnin (1957) nhiều tác phẩm hồi ký độc đáo (“Chứng cứ xác thực” 1951 “Những bến bờ khác” 1954 “Ơi tri giác hãy lên tiếng” 1966).

Theo cách diễn đạt của nhà nghiên cứu văn học Nga N.A. Anastasev (Н. А. Анастасьев) Nabokov là nhà văn của các nhà văn và sự nghiệp sáng tạo của ông là văn học của văn học là một thư viện lớn. Trên các trang sách của ông không ngừng vang lên tên tuổi của Shakespeare Lev Tolstoy Shiller và Kolridj Edgar Po và Bodler Dante và Gotorn Shekhov và Rembo và hàng loạt các tên tuổi vĩ đại khác. Trong đó Puskin giữ một vị trí đặc biệt vì đối với Nabokov Puskin là một tên tuổi mẫu mực là nhà thơ vĩ đại xứng đáng để ông bỏ ra cả chục năm trời dịch ra tiếng Anh trường ca “Evgheni Oneghin” bản dịch từng gây náo động trên văn đàn và trong dư luận bạn đọc.

Nabokov và Thơ

Trong kho tàng văn học của Vladimir Nabokov ngoài các tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Nga và tiếng Anh còn có một số lượng không nhỏ các tác phẩm thơ bằng tiếng Nga. Trọn cả cuộc đời sáng tạo sống xa tổ quốc nhưng thơ Nabokov vẫn luôn đau đáu một tình yêu giành cho quê hương đất nước:

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.
(Gửi nước Nga - Quỳnh Hương dịch)

Vladimir Nabokov là gương mặt nổi tiếng trên văn đàn thế giới nhưng do nhiều lý do khác nhau nên hầu như chưa được độc giả Việt Nam biết đến. Để góp phần giúp bạn đọc có thêm một số thông tin về Nabokov ngoài những điều khái quát trên đây sau đây Tài Hoa Trẻ xin giới thiệu một số tác phẩm thơ của ông với các bản dịch của Tạ Phương Nguyên Hùng Thu Hương và Quỳnh Hương.

1. ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая
ей море вторило вдали
и всхлипывали пролетая
кочующие журавли

и в небе томном исчезали
все тише все нежней звеня.
Мне два последних рассказали
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

1. Đàn sếu

Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế hằng ngày nhớ anh.

(Nguyên Hùng dịch)

2.
Есть в одиночестве свобода
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду снежинку каплю меда
я заключаю в стих.

И еженочно умирая
я рад воскреснуть в должный час
и новый день — росянка рая
а прошлый день — алмаз.

2. Không đề 1

Tự do có trong cô đơn
Và ngọt ngào – trong mộng ước.
Giọt mật ánh sao bông tuyết
Tôi gom trong một câu thơ.

Và sau mỗi đêm hấp hối
Tôi mừng sớm mai sống lại.
Ngày mới - giọt sương thiên đường
Còn ngày qua - hạt kim cương.

(Tạ Phương dịch)

3. ВЬЮГА

Тень за тенью бежит - не догонит
вдоль по стенке... Лежи не ворчи.
Стонет ветер? И пусть себе стонет.
Иль тебе не тепло на печи?

Ночь лихая... Тоска избяная...
Что ж не спится? Иль ветра боюсь?
Это - Русь а не вьюга степная!
Это корчится черная Русь!

Ах как воет как бьется - кликуша!
Коли можешь - пойди и спаси!
А тебе-то что? Полно не слушай...
Обойдемся и так без Руси!

Стонет ветер все тише и тише...
Да как взвизгнет! Ах жутко в степи...
Завтра будут сугробы до крыши...
То-то вьюга! Да ну ее! Спи.

3. Bão tuyết

Bóng tối trên tường dồn bóng tối
Hãy nằm yên trằn trọc làm chi!
Gió rên rỉ thì thây kệ gió
Hay mi chưa đủ ấm bên lò?

Đêm tai ương...Nỗi nhớ căn lều nhỏ
Mi khó ngủ ư hay sợ gió rồi?
Đâu phải là thảo nguyên bão tuyết
Là nước Nga trăn trở lúc tối trời!

Nào rú rít giật rung gào thét!
Có sức thì ra cứu giúp đi!
Sao thế nữa? Đủ rồi bưng tai lại...
Sẽ qua thôi dù nước Nga chẳng bên mi!

Tiếng gió rên khe khẽ yếu dần
Rồi lại tru lên... Ôi thảo nguyên đáng sợ!
Sáng mai ra băng ngập dày kín cửa...
Bão tuyết cơ mà! Thôi kệ nó ngủ đi!

(Thu Hương dịch)

4.
О чем я думаю? О падающих звездах...
Гляди вон там одна беззвучная как дух
алмазною стезей прорезывает воздух
и вот уж путь ее -- потух...

Не спрашивай меня куда звезда скатилась.
О я тебя молю безмолвствуй не дыши!
Я чувствую -- она лучисто раздробилась
на глубине моей души.
26 августа 1918

4. Không đề 2

Tôi nghĩ gì ư? Về những sao băng
Em nhìn kìa thêm một ngôi như linh hồn lặng ngắt
Bay vút qua không gian vệt sáng kim cương
Đến tận cùng đường và lụi tắt.

Đừng hỏi tôi sao rơi nơi đâu
Tôi xin em hãy lặng im và nín thở!
Tôi cảm thấy ngôi sao đang tan vỡ
Thành muôn tia trong sâu thẳm hồn mình.

(Tạ Phương dịch)

5. России

Не предаюсь пустому гневу
не проклинаю не молю;
как изменившую мне деву
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая --
глаза невинные твои --
и лепестки все понимая
чуть искрились росой любви...

И потому моя Россия
не смею гневаться грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!
1921?

5. Gửi nước Nga

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.

Nhưng ta cô đơn ôi nước Nga!
Giờ đây người đã xa ta quá!
Qua mất rồi những ngày ta vẫn nhớ:
Người với ta chung một niềm đau.

Tiếng người cười như vang vọng tới ta
Từ thẳm sâu cánh rừng Nga xanh mát!
Dịu dàng quá khiến tim ta đau thắt
Và tràn đầy đam mê trẻ trung.

Ta khẽ hôn đóa đồng thảo tháng năm
Đôi mắt Nga thơ ngây trong vắt -
Những cánh hoa dường như cũng hiểu
Long lanh sương đáp lại tình ta...

Và vì thế ơi nước Nga của ta
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Mắt trong veo đến vậy
Kẻ lỗi lầm chẳng có nổi đâu!

(Quỳnh Hương dịch)

Nguyên Hùng

Gửi nước Nga

5. России - Gửi nước Nga

Ta chẳng ngợp trong giận hờn vô nghĩa
Rủa nguyền van vỉ cũng không;
Ta vẫn yêu Tổ quốc mình sau trước
Như yêu ai đã đổi dạ thay lòng.

Nhưng ơi nước Nga ta cô độc quá chừng!
Người với ta giờ ngàn trùng cách trở!
Vậy mà từng có những ngày quá khứ:
Người cùng ta chia sẻ bao dung!

Ta cảm nhận nỗi đau êm dịu
Niềm đam mê rất đỗi trẻ trung
Khi từ cánh rừng xanh tươi vọng lại
Tiếng Người cười tựa nhạc ngân rung.

Ta từng hôn đoá hoa đồng thảo tháng năm -
Những con mắt Nga ngây thơ trong trắng -
Và những cánh hoa chừng hiểu lòng ta
Những giọt lệ-sương yêu lấp lánh…

Và vậy đó ơi nước Nga của ta
Ta đâu dám giận hờn sầu tủi…
Ta biết rằng ánh mắt sáng trong kia
Chẳng thể có ở người lầm lỗi.

(Tạ Phương dịch)

NH

TYKCT

Ừ tập thơ dịch "Đàn sếu" chắc chắn là sẽ in ít nhất là một bản cho TQ đấy.
Còn cái khoản "thực tế" mà TQ nói có người lại thích nó hơn đấy. Tin hay không tin thì thôi (@NTT).

Nhân tiện copy and paste tiếp nhé:

4. Không đề 2

Tôi nghĩ về gì nhỉ? Về những vì sao rơi...
Nhìn kìa thêm một ngôi như linh hồn lặng lẽ
Cắt qua không gian một vết ánh kim cương
Rồi tắt ngấm vĩnh viễn trong đêm trường...

Xin đừng hỏi nhé em điểm đến của vì sao.
Van em đấy hãy lặng im và tạm ngừng hơi thở!
Tôi thấy như vì sao đang vụn vỡ
Thành ngàn tia sáng nơi thẳm sâu của hồn tôi.

(Quỳnh Hương dịch)

Anh nghĩ gì ư? - Về những thoáng sao rơi...
Em thấy không kia một ngôi như linh hồn câm lặng
Vạch trời đêm ánh kim cương lấp lánh
Rồi giữa không trung - tắt lặng chẳng còn chi...

Đừng hỏi anh sao bay đi đâu.
Van em đấy! Lặng yên đừng thở nữa!
Anh cảm thấy sao kia đã vỡ
Thành muôn tia sáng rỡ trong sâu thẳm hồn anh.

(Thu Hương dịch)

tykct

À

Trong tập thơ Cánh Buồm thao thức anh cũng ghi nhớ là "Đàn Sếu" sắp in í mà nên em nhá xi nhan hộ anh tí ti thôi.
Ảnh mới đẹp giòn trẻ ...Anh Hùng biết vì sao ko? Vì anh mới được ai tặng mũ đúng ko đội vào ... không thấy thực tế nên trông giống anh vô cùng( cười thả phanh)

Nguyên Hùng

Quỳnh Hương Tạ Phương

3. ВЬЮГА – Bão tuyết

Trên tường chập chờn bóng tối
Nằm yên đi thôi đừng có càu nhàu.
Gió thét gào? Ừ thì kệ gió.
Nằm bên lò sưởi chẳng ấm sao?

Đêm tai hoạ... Buồn chán trong nhà gỗ...
Sao khó ngủ thế này? Ta sợ gió hay sao?
Nước Nga đấy đâu phải là bão tuyết!
Là nước Nga đen tối chuyển mình thôi!

Chà tiếng rú gào tiếng gió rít rợn người!
Nếu có thể - hãy đi ra mà cứu lấy!
Ta á? Đủ rồi thôi đừng nghe xui dại...
Ta lo được cho mình dù chẳng có nước Nga!

Tiếng gió gào như đang dần lặng đấy...
Lại đột ngột rít lên! Ôi đáng sợ thảo nguyên...
Rồi sáng ra chất chồng từng đống tuyết...
Đến tận mái nhà! Thôi mặc bão! Cứ ngủ ngon.

(Quỳnh Hương dịch)

Bóng đen trên tường đuổi nhau rối rít
Hãy nằm yên mi trằn trọc mãi chi
Gió rền rĩ? Ừ thì mặc gió
Hay bên lò chưa đủ ấm sao mi?

Đêm ương ngạnh... Mái lều tranh thổn thức...
Khó ngủ ư? Hay mi sợ gió gào?
Đây nước Nga đâu phải thảo nguyên bão tuyết –
Nước Nga đêm đen đang vật vã lộn nhào.

Tiếng gió rít tiếng rú gào thảm thiết
Nếu mi có gan có thể cứu - hãy ra!
Ồ sao thế? Đủ rồi vậy đừng nghe nữa...
Không có nước Nga ta vẫn vượt được mà.

Gió rên rỉ ngày càng lắng dịu...
Lại tru lên... Ôi hoang dã thảo nguyên...
Ngày mai tuyết ngập mái nhà từng đụn...
Bão tuyết mà! Thây kệ nó hãy ngủ yên!

(Tạ Phương dịch)

Nguyên Hùng

Gửi Tú Quỳnh

Cám ơn TQ đã có ý kiến về in sách. Thực ra anh cũng đã có ý định ấy nhưng vì chưa có thời gian để viết bổ sung thêm.

TQ cũng thấy cái ảnh mới thay giống anh hơn à? Lạ nhỉ cả VKN là người chưa gặp anh lần nào mà cũng bảo thế!

tykct

Anh Hùng ơi!

Những bài đã có ở trên anh sẽ sắp xếp để cho vào quyển thứ hai đem in chứ nhỉ.
Khi nào có gửi em 1 quyển nhé.
Ảnh mới trông rất là " giòn" ( cười khen ) đẹp đấy anh Hùng.

Nguyên Hùng

Thu Hương Quỳnh Hương

2. Không đề 1

Tự do có trong đơn côi
Ngọt ngào có trong mộng đẹp.
Sao trời tuyết bay giọt mật
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnh
Mỗi ngày qua - là kim cương long lanh

(Thu Hương dịch)

Trong cô đơn luôn sẵn có tự do
Trong mộng ảo - vị ngọt ngào mơ ước.
Ánh sao giọt mật và bông tuyết
Tôi giam vào chỉ một câu thơ.

Và mỗi đêm là một lần hấp hối
Tôi vui mừng mỗi rạng sáng hồi sinh.
Sương thiên đường lấp lánh ngày mới đến
Khi ngày qua - thành kim cương long lanh.

(Quỳnh Hương dịch)

Nguyên Hùng

PCT Minh Nguyệt

Thơ Vladimir Nabokov - Một số bản dịch khác

1. ЖУРАВЛИ - Đàn sếu

Xào xạc cánh rừng vàng
Biển xa vang tiếng dội
Đàn sếu nức nở bay
Tới miền cư trú mới.

Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em còn nhớ anh.

(Tạ Phương dịch)

Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.

Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.

(Quỳnh Hương dịch)

Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang
Văng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.

Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.

(Thu Hương dịch)

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...

(Phan Chí Thắng dịch)

Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời

Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ

(Lưu Hải Hà dịch)

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển cũng hát rì rào
Đàn sếu bay mê mải
Tha thiết gọi bạn yêu

Bầu trời như thể mất
Đàn sếu và bài ca
Hai con cuối kể lại
Em vẫn thường nhớ anh !

(Minh Nguyệt dịch)

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'2410','oeims3fi767b9cqcel8o23e5l6','0','Guest','0','54.198.52.82','2018-09-26 08:09:22','/post/2410/16637')