Đại diện cuối cùng của “thế kỷ bạc”...

ANNA AKHMATOVA
Đại diện cuối cùng của “thế kỷ bạc” trong nền thi ca Nga

Tachiana Sinhitsyina
LƯU HẢI HÀ  dịch

Bốn mươi năm trước đây ngày 5 tháng 3 năm 1966 Anna Akhmatova nhà thơ Nga vĩ đại đã qua đời. Bà gọi trái tim mình là “đã thủng lỗ” từ những năm còn trẻ tuổi. Cuộc đời đã dành cho người phụ nữ này rất nhiều đau khổ tinh thần đủ để tiêu diệt bất kỳ người nào. Nhưng số phận đã gìn giữ Anna Akhmatova gần 77 năm. Tất nhiên là gìn giữ cho những dòng chữ quý báu mà tài năng của bà đã phản xạ trên giấy.

Cái chết của Anna Akhmatova đã dừng chiếc đồng hồ của “thế kỷ bạc” trong thi ca Nga lại. Bà là người đại diện cuối cùng của thời kỳ rạng ngời này của văn học Nga thời kỳ bắt nguồn từ nửa sau của thế kỷ XIX. “Có thế kỷ vàng và thế kỷ bạc của nghệ thuật. Cả trong thế kỷ vàng cũng như thế kỷ bạc đều có những con người xứng đáng với nhau. Và cũng chưa chắc gì những người thuộc thế kỷ vàng là những người khác với những người thuộc thế kỷ bạc” – nhà thơ Nhicôlai Otsup năm 1933 đã xác định rất chính xác hai hiện tượng ấy của văn hóa Nga như thế. Anna Akhmatova thuộc về thế hệ tuyệt vời ấy của các nhà thơ Nga.

… Trong năm đầu tiên sau cách mạng Anna Akhmatova vừa mới mắc bệnh lao. Bà lên tàu đi Matxcơva tránh xa những màn sương mù của Peterburg. Trong toa tàu Akhmatova muốn hút thuốc và bà lấy thuốc lá ra. Nhưng trong số những người xung quanh không ai có diêm cả. Khi đó Akhmatova thò đầu ra ngoài cửa sổ và đốt thuốc từ những tia lửa của tàu. Lúc đó một anh lính Hồng quân nhìn thấy thế đã thốt lên: “Người như thế thì chẳng bị gục ngã đâu!”. Một tư thế cuộc sống không bao giờ thay đổi đã giúp cho bà không bị gục ngã: đối với mọi đòn đánh của số phận Akhmatova chỉ có một câu trả lời – ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Chỉ có tâm hồn khóc – khóc bằng thơ.

Những dòng thơ đầu tiên Akhmatova viết vào năm 11 tuổi khi còn sống ở thành phố Odessa nơi bà đã sinh ra. Khi nhìn thấy tác phẩm của cô con gái thì cha bà một kỹ sư đã nói rất nghiêm khắc: “Đó là sự suy đồi đừng có bôi nhọ họ của tôi!”. Cô con gái vâng lời và đổi họ Gorenko sang họ của bà cố vốn thuộc dòng giõi các công tước Tatar – Akhmatova. Lần thứ hai thì người hâm mộ say đắm Nhicolai Gumilev lại khuyên cô hãy xa cách việc làm thơ: “Em mảnh dẻ và dẻo dai thế. Có lẽ em múa sẽ tốt hơn chăng?”. Nhưng Akhmatova vẫn bị thi ca cuốn hút. Năm 1907 Gumilev muốn làm một món quà tặng người yêu và công bố trong tạp chí “Sirius” xuất bản ở Paris của ông một bài thơ của nàng. Thế là nữ sĩ Anna Akhmatova lần đầu tiên gặp gỡ với bạn đọc.

Ngày 12 tháng 5 năm 1910 Anna Akhmatova và Nhicolai Gumilev đã kết hôn ở một nhà thờ nhỏ gần Kiev – Anna học luật ở thành phố này. Sau đó họ tới Slepnhevo – điền trang của dòng họ Gumilev ở vùng Tveri. Nhưng chẳng bao lâu sau thì cuộc sống sôi động đã gọi họ tới thủ đô. Akhmatova và Gumilev cùng với M.Kuzmin Vyach. Ivanov thành lập nhóm thơ “Phân xưởng nhà thơ” họ tuyên bố về “trường phái acmeisme. Kết quả là tập thơ mỏng đầu tiên của Akhmatova “Chiều” đã ra đời và ngay lập tức đem lại vinh quang. Các nhà thơ trẻ sống cuộc sống bohema đầy sôi động. Họ bàn luận về nghệ thuật cuộc sống và những bí mật của thi ca trong quán cà phê sành điệu của Peterburg “Con chó lang thang” thưởng thức rượu sâm panh và dứa. Anna luôn là tâm điểm của sự chú ý – không chỉ như một nhà thơ mà còn như một người phụ nữ người ta so sánh nàng với bức tượng cổ đại tỏ tình với nàng thậm chí đấu súng vì nàng. Chính trong thời gian này họa sĩ trẻ N.Altman đã vẽ bức chân dung nổi tiếng của Akhmatova: nàng ngồi quay nghiêng trong bộ áo màu xanh sẫm quàng một chiếc khăn vàng.

Cuộc sống riêng tư của Akhmatova thời gian đó cũng tuân theo acmeisme – quay về với sự tự nhiên của thế giới vật chất với những cảm xúc ban đầu. Đám cưới của Akhmatova và Gumilev không thể hạnh phúc được – họ quá khác nhau. Chỉ mới 5 tháng trôi qua sau ngày cưới thì người chồng trẻ đã vội vàng tới châu Phi một lần nữa còn Anna thì vội vàng tới Paris. Thành phố này chờ nàng với một mối tình với một chàng họa sĩ nghèo còn chưa được ai biết đến – Amadeo Modigliani. Khi họ chia tay Anna tặng chàng một chiếc lông đà điểu làm kỷ niệm – chiếc lông này được Gumilev đem về từ châu Phi và cắm trên mũ nàng còn Modigliani thì tặng Anna 16 bức chân dung nàng. Tiếc rằng đến nay thì chỉ còn lại có một bức trong số đó.

Năm 1912 cặp vợ chồng Gumilev sinh được một cậu con trai đặt tên là Lev một nhà sử học nhà dân tộc học và triết học nổi tiếng trong tương lai. Bố mẹ cậu sống quá nhiều trong môi trường thơ văn nên người nuôi dạy cậu bé là bà nội. Bà Anna Ivanova tha thứ tất cả cho cô con dâu “kỳ dị” vì cô đã tặng cho bà cậu cháu nội. Anna Akhmatova cũng thường tới Slepnhevo ở đây nữ sĩ đã viết 60 bài thơ trong tập thơ “Đàn chim trắng”.

Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bắt đầu thì Akhmatova gần như biến khỏi cuộc sống công chúng và sống khép kín một mình chịu đựng bệnh lao. Thời đó bệnh này được coi là không chữa được. Cho rằng “thời gian đã kết thúc” Anna đắm mình trong thế giới yêu thích – văn học cổ điển khám phá lại thế giới này. Chính thời gian đó nữ sĩ đã viết những dòng thơ nổi tiếng:

“Trái tim bây giờ chẳng cần gì nữa
Cái nóng bỏng này tôi đã uống rồi…
Khối không khí lớn của Onhegin ấy
Như đám mây treo lơ lửng trước tôi…”

Pushkin mãi mãi là lý tưởng không suy xuyển đối với Akhmatova còn thi ca thì nhận được tính ngữ “rám nắng”. Thời gian đó là thời gian hình thành nhà thơ Akhmatova người tuân theo sự nghiêm túc cổ điển của thi ca sự rõ ràng và súc tích của phong cách thi ca. Và đó là những gì mà Akhmatova đã đem theo vào ngôi đền thiêng Pantheon(*) của thi ca Nga.

Akhmatova đón nhận sự sụp đổ của nước Nga cũ một cách khó khăn. Tuy nhiên mặc dù cảm nhận đựơc toàn bộ bi kịch của sự kiện nữ sĩ không hề chấp nhận ý nghĩ rời bỏ quê hương – “Tôi không đi cùng những người bỏ đất nước…”. Trong những đau khổ chung ấy nữ sĩ lại có thêm niềm đau riêng: năm 1918 Akhmatova và Gumilev chia tay. Anna đến sống cùng người chồng mới – nhà nghiên cứu phương Đông V.Shileiko. Nhưng Shileiko cũng không đánh giá được vai trò của Akhmatova như một thi sĩ và ông thản nhiên đem những bản thảo thơ của Anna nấu nước. Anna thở phào hạnh phúc khi ly dị với Shileiko để rồi lại rơi vào tay những người “chủ nô” khác. Akhmatova đi tìm “một tâm hồn gần gũi” nhưng đến tận cuối đời vẫn không tìm thấy…

Năm 1921 cuộc đời dành cho Akhmatova hết cú đánh này đến cú đánh khác. Tháng tám năm ấy nhà thơ Alekxandr Blok qua đời còn sau đó 2 tuần thì Nhicolai Gumilev bị tử hình. Quên đi bệnh lao Akhmatova quay trở lại môi trường thi ca để đón nhận lấy cây đàn lia của thi ca Nga đang run rẩy vì những mất mát lớn không bù đắp nổi. Nữ sĩ xuất bản hai tập thơ “Cây mã đề” và «Anno Domini».

Tháng 9 năm 1921 Lev cậu con trai 9 tuổi của Anna không được phát sách giáo khoa ở trường học chỉ vì cha cậu bị xử bắn. Đó là dấu hiệu bắt đầu những năm tháng đau khổ của Anna và cậu con trai. Năm 1935 cả con lẫn chồng của Akhmatova – ông N.Punhin ủy viên Bảo tàng Nga và Ermitage đều bị bắt vào tù. Suốt 17 tháng Akhmatova đứng xếp hàng ở cổng nhà tù

“Mười bảy tháng mẹ kêu gào khản tiếng
Mẹ gọi mong con về được nhà thôi
Mẹ quỳ xuống dưới chân đao phủ
Con là con là nỗi sợ con ơi”.

Anna thu hết dũng cảm viết thư cho Stalin và Lev Gumilev được thả ra. Nhưng ba năm sau thì Lev lại bị bắt. Akhmatova can đảm theo học khóa học người mẹ của tù nhân. Những đau khổ trong những năm tháng ấy đã hợp thành tập thơ “Requiem” mà suốt hai mươi năm Akhmatova chỉ dám để trong ký ức không dám ghi ra giấy.

Những năm tháng Chiến tranh Giữ nước Vĩ đại nữ sĩ cùng các nhà văn khác sơ tán từ vòng vây Leningrad tới Tashken. Những dòng thơ yêu nước của Akhmatova được viết lên tranh cổ động thời ấy: “Giờ khắc dũng cảm trên đồng hồ của chúng ta đã điểm và lòng dũng cảm sẽ không rời bỏ chúng ta!”. Thời kỳ đó Anna viết trường ca “Không có nhân vật” và luôn luôn cầu nguyện cho con trai đang chiến đấu trong những tiểu đoàn trừng giới. Lev Gumilev đã nguyên vẹn trải qua chiến tranh nhưng sau chiến thắng thì Lev lại vẫn tiếp tục ở tù. Lại một vết thương trong trái tim của Akhmatova. “Tôi đâu có một mình tôi cùng cả nước cùng xếp hàng vào trước ngục tù” – sau này Akhmatova sẽ viết vào tiểu sử tự thuật ngắn gọn của mình như thế.

Một thời gian khá lâu chính quyền không động đến Anna Akhmatova mặc dù thi ca của Akhmatova bị coi là “suy thoái” và “kiểu cách”. Nhưng năm 1945 thì nữ sĩ làm Stalin giận dữ khi biết rằng I.Berlin nhà sử học Anh đã ghé thăm Anna. Và Akhmatova cùng với nhà văn Mikhail Zoshenko trở thành đối tượng bị các nhà phê bình “đập nát thành tro bụi”. Năm 1946 trong các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad” công bố nghị quyết của Hội Nhà văn Liên Xô trong đó gọi Zoshenko là “kẻ lưu manh trong văn học” còn Akhmatova thì bị gọi là “kẻ dâm đãng”. Ngay lập tức Akhmatova bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn Liên Xô. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh đó thì Anna Akhmatova cũng chỉ nhún vai: “Một cường quốc cần gì phải đem xe tăng nghiền nát lồng ngực một bà già ốm yếu?”

Suốt 20 năm Anna Akhmatova không được in tác phẩm. Đó là một thử thách lớn đối với nữ sĩ. Nhưng bà vẫn tiếp tục “viết cho tương lai” và sống bằng việc dịch thuật những việc mà bạn bè tìm cho. Mãi đến năm 1965 Akhmatova mới xuất bản được tập thơ tổng kết “Bước chạy thời gian. Những bài thơ 1909-1965”. Trong đó – là sự nhận thức bi kịch của nước Nga trong thế kỷ XX sự trung thành với những cơ sở đạo đức cuộc sống tâm lý của tình cảm phụ nữ.

Những năm cuối đời “nữ hoàng của thế kỷ bạc” được cho phép nhận giải thưởng văn học Italia “Etna-Taormina” và danh hiệu tiến sĩ danh dự của Đại học Tổng hợp Oxford. Còn từ đất nước của chính mình thì nữ sĩ chỉ nhận được một giải thưởng nhưng đó là giải thưởng quý giá nhất – sự thừa nhận của độc giả.

Ở quận Bezhetsk vùng Tver trên mảnh đất “nhớ đến đau lòng” có một đài kỷ niệm tuyệt vời dành cho Anna Akhmatova Nhicolai Gumilev và Lev Gumilev. Họ được diễn tả như một gia đình hạnh phúc bước đi trên mảnh đất quê hương mảnh đất được họ chiếu sáng bằng ánh hào quang tài năng của mình.

(*)- Pantheon trong tiếng Hy Lạp là đền thờ hay nơi dành riêng cho các vị thần; Thường được dùng với nghĩa là nơi an nghỉ của những người xuất chúng.

Bài liên quan:

ANNA AKHMATOVA VỚI TRÁI TIM KHÔNG TRÓI BUỘC

 __________________________________

Chùm thơ của Anna Akhmatova

Ta sẽ…

Ta sẽ không cùng uống chung một cốc
Dù nước suông hay rượu ngọt nhé anh
Đừng hôn nhau mỗi buổi sáng trong lành
Mỗi chiều đến đừng cùng nhìn qua cửa
Anh thở mặt trời mặt trăng em thở
Nhưng chỉ một cuộc tình nuôi sống hai ta.

Với em anh thủy chung dịu ngọt
Bên anh em vui nhộn nhường nào
Mà sao thấy mắt anh nhìn hoảng hốt -
Anh chính người có lỗi khiến em đau!
Thì chúng mình hãy thôi tìm đến nhau
Và giữ cho nhau sự bình yên chưa mất.

Nhưng giọng anh trong thơ em vẫn hát
Trong thơ anh vẫn thấp thoáng hình em
Bởi ngọn lửa không thể nào lụi tắt
Trước nỗi kinh hoàng trước lãng quên!
Giá giờ này anh biết rằng em khao khát
Đôi môi anh cháy bỏng lửa hồng!

(Nguyên Hùng dịch)

Не будем пить из одного стакана
Ни воду мы ни сладкое вино
Не поцелуемся мы утром рано
А ввечеру не поглядим в окно.
Ты дышишь солнцем я дышу луною
Но живы мы любовию одною.

Со мной всегда мой верный нежный друг
С тобой твоя веселая подруга.
Но мне понятен серых глаз испуг
И ты виновник моего недуга.
Коротких мы не учащаем встреч.
Так наш покой нам суждено беречь.

Лишь голос твой поет в моих стихах
В твоих стихах мое дыханье веет.
О есть костер которого не смеет
Коснуться не забвение ни страх.
И если б знал ты как сейчас мне любы
Твои сухие розовые губы!

1913

Hỏi?

Hỡi người trai trẻ trung mạnh mẽ
Vầng dương sáng bừng mái lá xác xơ
Hãy cầu nguyện cho hồn tôi lay lắt
Khánh kiệt bơ vơ tự bao giờ

Tôi sẽ kể bạn nghe một khi nào đó
Với lòng biết ơn dù sầu khổ chưa tan
Cái đêm ấy tôi lịm trong hơi ngạt
Để sáng ra băng giá phủ tâm can

Trong đời tôi đâu chứng kiến gì nhiều
Chỉ biết hát với mỏi mòn chờ đợi.
Tôi không hề hận thù đồng loại
Cũng chẳng khi nào phản lại người thân

Vậy cớ sao Chúa lại nhẫn tâm
Trừng phạt tôi từng giờ từng khắc ?
Hay đó chính là thiên đường hạnh phúc
Mà đấng thiên tiên dẫn dắt tôi vào ?

(Thu Hương dịch)

Помолись о нищей о потерянной
О моей живой душе
Ты всегда в своих путях уверенный
Свет узревший в шалаше.

И тебе печально-благодарная
Я за это расскажу потом
Как меня томила ночь угарная
Как дышало утро льдом.

В этой жизни я немного видела
Только пела и ждала.
Знаю: брата я не ненавидела
И сестры не предала.

Отчего же Бог меня наказывал
Каждый день и каждый час?
Или это ангел мне указывал
Свет невидимый для нас?

Trái tim này chẳng níu trái tim ai

Trái tim này chẳng níu trái tim ai
Nếu có muốn cứ ra đi anh nhé.
Hạnh phúc tràn đầy dang tay lướt nhẹ
Ôm kẻ tự do trên bước đường đời.

Em không khóc cũng chẳng hề trách móc
Cho phận mình tủi nhục bấy lâu nay.
Đừng hôn em - em mệt mỏi thế này
Chả khác gì anh hôn vào cái chết.

Ngày tháng qua đi đớn đau đan kết
Vây bên em trắng lạnh xác mùa đông.
Vì sao anh - em thổn thức trong lòng
Người em chọn cứ thua hoài anh mãi…

(Bạch Dương dịch)

Сердце к сердцу не приковано

Сердце к сердцу не приковано
Если хочешь - уходи.
Много счастья уготовано
Тем кто волен на пути.

Я не плачу я не жалуюсь
Мне счастливой не бывать.
Не целуй меня усталую -
Смерть придется целовать.

Дни томлений острых прожиты
Вместе с белою зимой.
Отчего же отчего же ты
Лучше чем избранник мой?

Ký ức mặt trời

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt
Cỏ hóa vàng hơn.
Gió đưa những bông tuyết sớm
Chập chờn – chập chờn.

Trong kênh hẹp nước đóng băng lạnh giá -
Không chảy lơ thơ.
Ở đây không bao giờ xảy ra điều gì nữa
Ôi không bao giờ!

Cây liễu trải trên bầu trời trống vắng
Chiếc quạt cành xanh.
Có thể tốt hơn nếu như tôi chẳng
Trở thành vợ anh.

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt.
Đêm? Có phải không?
Cũng có thể!... sau đêm sẽ kịp đến
Mùa đông.

(Lưu Hải Hà dịch)

Память о солнце в сердце слабеет.
Желтей трава.
Ветер снежинками ранними веет
Едва-едва.

В узких каналах уже не струится -
Стынет вода.
Здесь никогда ничего не случится -
О никогда!

Ива на небе пустом распластала
Веер сквозной.
Может быть лучше что я не стала
Вашей женой.

Память о солнце в сердце слабеет.
Что это? Тьма?
Может быть!.. За ночь прийти успеет
Зима.

Hát cho lần gặp cuối

Lồng ngực lạnh đi bất lực
Tôi dứt bước đi vẫn nhẹ nhàng.
Mang nhầm găng phải sang tay trái
Tôi rời cánh cửa nhà chàng.

Số bậc tưởng chừng nhiều lắm
Dù tôi vẫn biết chỉ có ba!
Mùa thu giữa rừng phong xào xạc:
“Nào hãy ra đi chết cùng ta

Số phận đỏng đảnh và cay nghiệt
Ta hiểu ra ta đã bị lừa”.
Tôi đáp: “Còn ta ta cũng vậy
Đợi ta cùng chết với mùa thu...”

Đấy là bài ca cho lần gặp cuối
Trong bóng tối tôi ngoái lại ngôi nhà.
Nến còn cháy vàng trong phòng ngủ
Hắt sáng lên khung cửa thờ ơ.

(Quỳnh Hương dịch)

Песня последней встречи

Так беспомощно грудь холодела
Но шаги мои были легки.
Я на правую руку надела
Перчатку с левой руки.

Показалось что много ступеней
А я знала - их только три!
Между кленов шепот осенний
Попросил: "Со мной умри!

Я обманут своей унылой
Переменчивой злой судьбой".
Я ответила: "Милый милый!
И я тоже. Умру с тобой..."

Это песня последней встречи.
Я взглянула на темный дом.
Только в спальне горели свечи
Равнодушно-желтым огнем.

(1911)

nguyenhung

Gửi anh VC

@Anh VC:
Rất tiếc là em không có cuốn sách mà anh nói.
Về Samuil Marshak em có bài NGƯỜI KỂ CHUYỆN CỔ TÍCH CHO THIẾU NHI mời anh click vào để đọc. Biết đâu anh sẽ tìm thấy câu chuyện cổ tích nào đó để viết tặng Tiên?

VC

Gửi Nguyên Hùng

NH ơi NH có tuyển tập C.Marsac ( Tiếng nga ) Không ? Mình chỉ nhớ bìa cứng dày khoảng 500 tr ( trong đó nhiều bài dịch thơ của Hẻnich Hai Nơ như Lô rô lây ... hoặc những bài thơ không đề ...và nhiều tác giả khác nữa ( cô gái chân đất giọng nói trong rừng đêm hè phương bắc khúc hát thằng hề... ) . Nếu có thì nói lên nhé mình có việc ! Khi vào sg mình mượn poto một số bài . Ở HN mình nhờ một số bạn bè nhưng đều chỉ vào thư viên quốc gia cơ !!!